Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam là 72%, cao hơn mức trung bình thế giới (49%), chỉ đứng sau Campuchia là 81%.

Phụ nữ Việt Nam tham gia lao động cao nhất nhì thế giới - Ảnh 1.

Lao động nữ ở Việt Nam luôn bị chịu thiệt thòi 

Tỉ lệ nay cũng cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (59%) và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (39%) – số liệu do Trung tâm phát triển và hội nhập – một tổ chức phí chính phủ – vừa công bố, căn cứ nhiều khảo sát, nghiên cứu khác nhau do Mạng lưới hành động vì lao động di cư tiến hành mới đây.

Báo cáo cũng cho biết lao động nữ tại Việt Nam chiếm 48,4% tổng lực lượng lao động, và họ gặp nhiều bất công trong công việc, thu nhập.

Ví dụ trong ngành dệt may, da giày, điện tử, lao động nữ chiếm trên 70% lực lượng lao động, nhưng họ chỉ được hưởng một phần rất nhỏ bé trong toàn bộ giá trị của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong ngành dệt may, chi phí lao động chỉ chiếm 2% giá bán buôn của một sản phẩm trong khi các nhãn hàng đang hưởng 16% lợi nhuận. Các nhãn hàng cũng thường xuyên gây áp lực giảm chi phí lao động hơn nữa. Hệ quả là người lao động trong các chuỗi cung ứng toàn cầu tại Việt Nam đang phải làm việc với cường độ cao hơn, thời gian làm việc dài hơn với mức lương thực tế thấp hơn.

Phụ nữ Việt Nam tham gia lao động cao nhất nhì thế giới - Ảnh 2.

Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới, chỉ thấp hơn Campuchia

Thất nghiệp nhiều hơn, lương thấp hơn

Khảo sát cũng chỉ rõ những bất bình đẳng giới trong việc làm tại Việt Nam. Cụ thể, có 7,8 triệu lao động nữ đang làm việc trong khu vực phi chính thức với điều kiện lao động không đảm bảo. Tỉ lệ lao động nữ trong khu vực phi chính thức phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với mức 31,8% của lao động nam trong khu vực phi chính thức.

Lao động nữ đang ở vị thế thấp hơn nam trong cơ cấu việc làm. Phụ nữ chỉ chiếm 26% các vị trí lãnh đạo nhưng lại đóng góp tới trên 52% nhóm lao động giản đơn và 66,6% lao động gia đình. Điều đó cho thấy vẫn còn rất nhiều rào cản đối với phụ nữ trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển nghề nghiệp so với nam giới.

Lao động nữ chiếm đa số trong nhóm lao động thất nghiệp. Cụ thể, lao động nữ chiếm tới trên 57% số người thất nghiệp ở nhóm lao động ‘chưa qua đào tạo’ và hơn 50% trong nhóm “đã đc đào tạo nghề chuyên nghiệp”.

Đặc biệt tỉ trọng lao động nữ trong nhóm thất nghiệp có trình độ đại học lên tới trên 55%. Điều đó cho thấy khả năng tiếp cận việc làm đối với lao động nữ khó khăn hơn nam ở hầu hết mọi nhóm trình độ, đặc biệt ở nhóm thấp nhất và nhóm cao nhất.

Lao động nữ cũng phải làm việc trong điều kiện tồi tệ hơn lao động nam. Chỉ có gần 50% lao động nữ trong nhóm lao động làm công ăn lương có ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, trong khi đó tỉ lệ ký hợp đồng lao động của nam là gần 60%.

Về thu nhập, dù có cùng trình độ, vị trí công việc như nam giới, nhưng thu nhập của lao động nữ Việt Nam luôn thấp hơn. Trung bình, thu nhập của lao động nữ thấp hơn nam giới gần 11%, nhưng sự chênh lệch này càng ở các nhóm trình độ cao hơn thì càng nới rộng.

Năm 2016, thu nhập của lao động nữ chưa qua đào tạo chỉ thấp hơn nam cùng trình độ là 8%, nhưng chênh lệch này lên tới 19,7% ở nhóm trình độ đại học trở lên.

Theo vị trí công việc, lao động nữ đang có thu nhập thấp hơn các nam đồng nghiệp 12% ở vị trí lãnh đạo, 19,4% ở vị trí chuyên môn kĩ thuật bậc cao và 15,6% ở nhóm lao động giản đơn…

Nguồn: tuoitre.vn

Từ khóa : %lao động nữlực lượng lao độngphụ nữ Việt nam

TIN LIÊN QUAN